Ở Phước Hiệp và Tân An Hội cũ, nhiều hộ vẫn nuôi bò thịt và bò sữa, phần lớn vài con đến vài chục con trong chuồng cạnh nhà. Điểm khác với vùng chăn nuôi xa dân cư là chuồng bò ở đây sát vách nhà mới, nhà trọ, nên muốn giữ nghề phải giải được ba việc: chuồng sạch và thoáng, phân với nước thải được thu gom xử lý, và cỏ đủ ăn quanh năm.
Vùng Củ Chi từ lâu được biết đến là nơi nuôi bò sữa nhiều nhất TP Hồ Chí Minh, bò thịt cũng là nguồn thu quen của nhà nông. Bài này không bàn chuyện nuôi bò ven sông Sài Gòn mà nói về chăn nuôi trên đất gò, xen khu dân cư, đúng với hoàn cảnh xã Tân An Hội hiện nay: làm chuồng, chọn hướng nuôi, trồng cỏ, xử lý chất thải, sống hoà với hàng xóm và những gì cần hỏi cơ quan thú y.
Bò thịt hay bò sữa: hai nghề khác hẳn
Nuôi bò sữa là công việc hằng ngày, không có ngày nghỉ: vắt sữa sáng chiều, vệ sinh dụng cụ, giao sữa cho trạm thu mua đúng giờ, theo dõi sức khoẻ bầu vú, phối giống, chăm bê. Đổi lại, tiền sữa về đều theo kỳ thanh toán của đơn vị thu mua, giúp gia đình có dòng tiền ổn định. Bò sữa đòi chuồng mát, nước sạch, thức ăn đủ chất; ở vùng nắng nóng như Củ Chi, giữ chuồng mát là chuyện sống còn với sản lượng sữa.
Nuôi bò thịt nhẹ việc hơn: bò ăn cỏ, rơm, thức ăn tinh bổ sung, nuôi vài tháng đến hơn một năm rồi bán cho thương lái. Vốn bỏ ra một lần, thu về một lần, rủi ro nằm ở giá bò lúc bán và dịch bệnh. Nhiều hộ ở Tân An Hội chọn nuôi bò thịt vì người lớn tuổi chăm được, con cái đi làm vẫn yên tâm.
Còn một hướng thứ ba ít người để ý là nuôi bò sinh sản: giữ bò cái, phối giống, nuôi bê đến tuổi cai sữa rồi bán bê cho hộ nuôi thịt. Hướng này cần ít thức ăn tinh hơn bò sữa, ít công hơn, nhưng thu nhập chậm và phụ thuộc tỉ lệ đậu thai. Với hộ có ruộng cỏ sẵn và người lớn tuổi rảnh tay, đây là cách giữ đàn nhỏ mà không quá vất vả.
Dù chọn hướng nào, chất lượng con giống quyết định phần lớn kết quả. Bò mua trôi nổi, không rõ nguồn, không có sổ tiêm phòng là con đường ngắn nhất dẫn tới dịch bệnh lây cả chuồng. Nên mua giống từ hộ quen, cơ sở có uy tín, hoặc qua chương trình hỗ trợ giống của thành phố nếu có.
Một số hộ nuôi cả hai hoặc chuyển qua lại theo giá. Trước khi quyết, nên đến xem chuồng của vài hộ đang nuôi trong ấp, hỏi họ về thời gian làm mỗi ngày và những năm lỗ, không chỉ những năm lời.
Làm chuồng cạnh nhà dân cho đúng
Chọn chỗ đặt chuồng. Đặt chuồng ở phần đất xa nhà ở và xa ranh hàng xóm nhất có thể, cuối hướng gió chính. Không đặt sát giếng nước sinh hoạt, kênh mương dẫn nước tưới chung.
Nền và rãnh thoát. Nền bê tông có độ dốc, rãnh thu nước tiểu và nước rửa chuồng dẫn về hố chứa hoặc hầm biogas, không cho chảy tràn ra đường hay mương hở.
Mái và thông gió. Mái cao, có thể lợp tôn chống nóng hoặc tôn có lớp cách nhiệt, hai bên thoáng; nhiều hộ gắn quạt, phun sương cho bò sữa vào giữa trưa mùa khô.
Máng ăn, máng uống. Máng ăn dễ vệ sinh, nước uống sạch luôn có sẵn; bò thiếu nước vào mùa nắng là giảm sữa, giảm ăn ngay.
Khu ủ phân riêng. Phân cào ra mỗi ngày đưa về nơi ủ có mái che, nền chống thấm, không để đống phân lộ thiên ngấm nước mưa chảy ra ngoài.
Chống ruồi muỗi. Dọn phân thường xuyên là cách chống ruồi tốt nhất; kết hợp chế phẩm vi sinh khử mùi, bẫy ruồi, phát quang bụi rậm quanh chuồng.
Cách xử lý phân và nước thải thường gặp
Chọn cách nào tuỳ số con, diện tích đất và vốn. Bảng dưới so sánh các cách mà hộ chăn nuôi ở vùng Củ Chi thường dùng; nhiều hộ kết hợp hai, ba cách:
| Cách làm | Phù hợp | Ưu điểm | Điểm cần chú ý |
|---|---|---|---|
| Hầm biogas | Hộ có nhiều con, có đất làm hầm | Giảm mùi, có khí đốt nấu ăn, bã dùng bón cây | Phải bảo trì, túi hoặc hầm hỏng là mùi và nước thải tràn |
| Ủ phân compost có mái che | Mọi quy mô | Phân hoai bán được hoặc bón ruộng rau, vườn cây | Cần đảo trộn, che mưa; ủ chưa hoai mà bón là mang mầm bệnh |
| Đệm lót sinh học | Bò thịt nuôi nhốt số ít | Giảm mùi, giảm nước rửa chuồng | Phải bổ sung chế phẩm, thay đệm đúng hạn |
| Ao lắng, hố chứa nước thải | Sau biogas hoặc khi không có biogas | Lắng cặn trước khi dùng tưới cỏ | Không để tràn ra kênh, phải có bờ và che chắn |
| Bán phân tươi cho người trồng | Hộ ít đất | Không tốn chỗ ủ | Phải chở đi nhanh, tránh để đống chờ lâu |
Nước thải chăn nuôi chảy thẳng ra kênh, mương là nguyên nhân chính của va chạm với hàng xóm và có thể bị xử phạt theo quy định về bảo vệ môi trường. Dù nuôi ít con, nên có ít nhất một hố chứa có nắp hoặc túi biogas nhỏ.
Cỏ: chuyện của cả năm
Bò cần thức ăn thô xanh mỗi ngày. Hộ nuôi ở Tân An Hội thường trồng cỏ trên ruộng của mình hoặc thuê ruộng xung quanh, các loại cỏ voi và những giống cỏ cao sản được trồng phổ biến ở Củ Chi. Cỏ trên đất xám cần phân bón và nước như rau; được tưới đủ thì cắt được nhiều lứa trong năm, bón phân bò hoai cho cỏ là vòng tuần hoàn khép kín.
Mùa khô là lúc thiếu cỏ: ruộng không có nước tưới thì cỏ chậm lên, phải mua cỏ của hộ khác, mua rơm cuộn, thân bắp ủ chua. Nhiều hộ chủ động ủ chua cỏ hoặc thân bắp vào cuối mùa mưa để dành cho mùa khô. Ủ chua đúng cách thì thức ăn thơm, bò ăn tốt; ủ hở khí, ướt quá thì bị mốc, không dùng được.
Khi đất xung quanh dần thành nhà, ruộng cỏ cũng thu hẹp. Đây là giới hạn thật sự của chăn nuôi bò ven đô: không có đất trồng cỏ thì chi phí thức ăn tăng, đàn phải giảm hoặc dời về vùng còn đất rộng hơn ở phía bắc vùng Củ Chi.
Thú y, tiêm phòng và khai báo
Bò cần được tiêm phòng các bệnh truyền nhiễm theo lịch của cơ quan thú y, như lở mồm long móng, tụ huyết trùng, viêm da nổi cục. Lịch tiêm và nơi tiêm thường được thông báo qua ấp, khu phố hoặc cán bộ thú y của xã; hộ nuôi nên giữ sổ ghi lại ngày tiêm, loại vắc xin để khi bán bò hay giao sữa có giấy tờ chứng minh.
Khi bò có dấu hiệu bất thường như bỏ ăn, sốt, chảy nước dãi, nổi u cục ngoài da, què chân, cần gọi thú y đến khám, cách ly con bệnh, không tự ý mua thuốc tiêm theo lời mách. Có bệnh truyền nhiễm thì phải báo cho chính quyền và thú y theo quy định, không bán chạy bò bệnh cho thương lái vì sẽ lây lan cả vùng.
Theo quy định hiện hành về chăn nuôi, việc chăn nuôi trong khu vực nội thành, khu dân cư có những hạn chế nhất định và quy mô trang trại phải đáp ứng điều kiện về khoảng cách, xử lý chất thải. Quy định cụ thể áp dụng cho xã có thể thay đổi theo quy hoạch, nên trước khi mở rộng chuồng hoặc bắt đầu nuôi mới, hãy hỏi Ủy ban nhân dân xã và cơ quan thú y.
Giữ hoà khí với hàng xóm
Chuồng bò có trước, nhà mới xây sau, nhưng người mới đến vẫn có quyền phàn nàn khi mùi, ruồi, nước thải ảnh hưởng tới họ. Ở các ấp đang đô thị hoá của Tân An Hội, chuyện này diễn ra thường xuyên. Hộ nuôi giữ được nghề lâu thường làm vài việc đơn giản: dọn phân mỗi ngày, che chắn chuồng phía giáp nhà dân, không xả nước rửa chuồng ra đường, và chủ động hỏi han hàng xóm khi có góp ý.
Với người mới đến, nên hiểu rằng nuôi bò là sinh kế của nhiều gia đình ở đây, không thể dời đi trong một sớm một chiều. Góp ý cụ thể, như đề nghị đổi giờ rửa chuồng hay xây thêm vách chắn, dễ được tiếp nhận hơn là yêu cầu dẹp chuồng. Khi đã nói chuyện mà không cải thiện, có thể nhờ trưởng ấp hoặc Ủy ban nhân dân xã làm trung gian.
Trước khi bắt đầu nuôi: những khoản phải tính
Nhiều hộ bắt đầu nuôi bò vì thấy hàng xóm có lời, rồi gặp khó vì không tính hết các khoản. Danh sách dưới không có con số, nhưng đi đủ những gì cần cân nhắc:
- Vốn mua con giống, và nguồn giống có rõ lý lịch tiêm phòng hay không.
- Chi phí làm chuồng, nền, rãnh, hố chứa hoặc hầm biogas, quạt, đường nước, đường điện.
- Đất trồng cỏ: có sẵn, phải thuê, hay phải mua cỏ quanh năm; khoảng cách chở cỏ về chuồng.
- Thức ăn tinh, khoáng, rơm, cỏ ủ chua dự trữ cho mùa khô.
- Thú y: tiêm phòng, khám chữa, phối giống, thuốc sát trùng chuồng.
- Công chăm hằng ngày: ai trong nhà làm, có ai thay khi người đó bệnh hay đi vắng.
- Đầu ra: thương lái nào mua bò, trạm nào nhận sữa, điều kiện chất lượng sữa ra sao.
- Rủi ro: dịch bệnh, giá bò, giá sữa xuống, đất bị quy hoạch phải dời chuồng.
- Quan hệ hàng xóm và quy định môi trường tại vị trí đặt chuồng.
Nếu phần lớn các dòng trên còn dấu hỏi, nên bắt đầu với số ít con, nuôi thử một chu kỳ, ghi chép đầy đủ, rồi mới tăng đàn. Các lớp tập huấn chăn nuôi bò của thành phố và các buổi hội thảo do doanh nghiệp thu mua sữa tổ chức là chỗ học thêm kỹ thuật miễn phí hoặc chi phí thấp, hỏi cán bộ nông nghiệp xã để biết lịch.
Một điều nữa ít ai nói: nuôi bò là ràng buộc thời gian dài. Bò không chờ chủ đi đám cưới, về quê ăn Tết. Gia đình cần thống nhất trước ai sẽ gánh việc này trong vài năm tới.
Câu hỏi thường gặp
Nuôi vài con bò trong sân nhà ở Tân An Hội có bị cấm không?
Chăn nuôi nông hộ ở xã nông thôn nhìn chung không bị cấm, nhưng phải bảo đảm vệ sinh môi trường và không gây ảnh hưởng đến người xung quanh. Khu vực đã quy hoạch thành khu dân cư tập trung có thể có quy định riêng, nên hỏi Ủy ban nhân dân xã trước khi nuôi.
Hầm biogas có thật sự hết mùi không?
Hầm biogas giảm mùi rất nhiều so với để phân lộ thiên, nhưng không hết hẳn nếu hầm quá tải, rò rỉ hay nước sau hầm chảy ra ngoài. Cần làm hầm đủ lớn so với số con, kiểm tra định kỳ và có ao hoặc hố lắng phía sau.
Sữa bò ở đây bán cho ai?
Phần lớn hộ nuôi bò sữa ở vùng Củ Chi giao sữa cho các trạm thu mua của doanh nghiệp chế biến sữa theo hợp đồng. Một phần nhỏ bán sữa tươi trực tiếp, nhưng người mua nên chọn nguồn bảo đảm vệ sinh và đun sôi trước khi uống.
Mùa khô thiếu cỏ thì cho bò ăn gì?
Hộ nuôi thường dùng cỏ ủ chua, thân bắp ủ chua, rơm, cỏ mua từ nơi khác và thức ăn tinh bổ sung theo hướng dẫn kỹ thuật. Chuẩn bị thức ăn dự trữ từ cuối mùa mưa giúp bớt phụ thuộc giá cỏ mùa khô.
Bò bị bệnh ngoài da nổi u cục thì làm gì?
Cách ly con bệnh, báo ngay cho cán bộ thú y xã hoặc cơ quan thú y để được hướng dẫn, không tự chữa theo lời mách và không bán bò bệnh. Viêm da nổi cục là bệnh truyền nhiễm cần khai báo và có vắc xin phòng.
Người mới mua đất cạnh chuồng bò nên làm gì?
Trước khi mua, nên đến vào nhiều thời điểm trong ngày, kể cả sau mưa, để biết mức mùi và ruồi. Sau khi đã ở, góp ý cụ thể và thiện chí với chủ chuồng, cần thì nhờ trưởng ấp hoặc xã làm trung gian.